Trớ sữa là chuyện rất thường gặp ở trẻ dưới 6 tháng: một ít sữa trào ra miệng sau khi bú, bé vẫn vui vẻ, bú tốt, tăng cân đều. Phần lớn trẻ đỡ dần khi lớn và hết trớ quanh 12 tháng tuổi. Vỗ ợ hơi giúp bé đẩy bớt không khí nuốt vào khi bú, nhờ đó một số bé trớ ít hơn và đỡ khó chịu.
Điều cần phân biệt là trớ với nôn. Trớ thường nhẹ, chảy ra khỏi miệng không gắng sức. Nôn vọt thành tia, nôn ra dịch xanh hay có máu, nôn kèm bỏ bú, sụt cân, li bì là những dấu hiệu cần đưa bé đi khám ngay. Bài này giải thích vì sao trẻ sơ sinh hay trớ, cách vỗ ợ hơi, những điều chỉnh khi cho bú giúp giảm trớ, những cách làm cần tránh, và danh sách dấu hiệu không được chờ.
Vì sao trẻ sơ sinh hay trớ sữa
Ở chỗ thực quản nối với dạ dày có một vòng cơ đóng lại để giữ thức ăn ở dưới. Ở trẻ sơ sinh, vòng cơ này còn non và hay giãn ra, trong khi dạ dày lại nhỏ và gần như chỉ chứa thức ăn lỏng. Bé nằm ngửa nhiều, bú một lượng sữa tương đối lớn so với cỡ dạ dày, nên sữa dễ trào ngược lên khi bé cựa, ho, rặn, hay khi bụng bị đè.
Hiện tượng này trong y học gọi là trào ngược dạ dày thực quản sinh lý. Nó phổ biến tới mức nhiều tài liệu nhi khoa mô tả hơn một nửa số trẻ vài tháng tuổi có trớ hằng ngày. Phần lớn đạt đỉnh trong khoảng vài tháng đầu rồi giảm dần khi bé ngồi được, ăn đặc hơn, và vòng cơ trưởng thành.
Lượng trớ thường trông nhiều hơn thực tế: một thìa sữa loang trên khăn có thể trông như cả cữ bú. Nếu bé vẫn tăng cân, tã ướt đều, không khó chịu nhiều, thì trớ là chuyện "giặt nhiều đồ hơn" chứ không phải bệnh. Bé như vậy thường được gọi vui là bé "trớ vui vẻ".
Trào ngược trở thành vấn đề khi đi kèm biến chứng: bé không tăng cân, bỏ bú vì đau, quấy khóc dữ dội mỗi lần bú, ho sặc, khò khè nhiều. Khi đó bác sĩ mới cân nhắc gọi là bệnh trào ngược và quyết định cách xử lý. Việc này cần khám, không tự kết luận qua số lần trớ.
Ba tư thế vỗ ợ hơi và cách làm
Bé nuốt không khí khi bú, nhất là khi bú vội, khóc trước khi bú, bú bình có núm chảy nhanh hoặc khớp ngậm chưa kín. Vỗ ợ hơi giúp bóng khí thoát ra. Lót một chiếc khăn dưới cằm bé trước khi bắt đầu.
- Bế đứng tựa vai: đặt bé thẳng người áp vào ngực, cằm bé gác lên vai người bế. Một tay đỡ mông, tay kia vỗ nhẹ hoặc xoa vòng tròn ở giữa lưng.
- Ngồi trên đùi: cho bé ngồi nghiêng về phía trước trên đùi người lớn, một bàn tay đỡ ngực và cằm bé bằng cách để cằm tựa vào kẽ giữa ngón cái và ngón trỏ, không bóp vào cổ. Tay kia vỗ nhẹ lưng.
- Nằm sấp trên đùi: đặt bé nằm sấp ngang đùi, đầu cao hơn ngực một chút, quay mặt sang một bên, mũi miệng thông thoáng. Vỗ hoặc xoa lưng nhẹ. Tư thế này chỉ dùng lúc bé thức và có người lớn giữ.
Vỗ bằng lòng bàn tay khum, lực nhẹ, nhịp đều, không vỗ mạnh hay lắc. Thời điểm hay dùng là giữa cữ bú, khi đổi bên vú hoặc sau một lượng sữa nhất định với bé bú bình, và sau khi bú xong. Nếu vỗ vài phút mà bé không ợ, có thể dừng lại: không phải cữ nào bé cũng có hơi để ợ, nhất là bé bú mẹ với khớp ngậm tốt. Giữ bé ở tư thế thẳng thêm một lúc sau bú giúp sữa xuống dạ dày.
Điều chỉnh khi cho bú để bé trớ ít hơn
Không có cách nào làm hết trớ, nhưng một số điều chỉnh đơn giản giúp nhiều bé đỡ hơn:
- Cho bú khi bé có dấu hiệu đói sớm, trước khi bé khóc to. Bé khóc nuốt nhiều hơi hơn và bú vội hơn.
- Không ép bé bú hết khi bé đã tự nhả, quay đi. Bú quá no là nguyên nhân hay gặp của trớ nhiều, nhất là với bé bú bình.
- Cho bú tư thế đầu cao hơn bụng, bé không nằm bẹp ngang. Với bú bình, giữ bình nghiêng đủ để sữa phủ kín núm, không để bé hút không khí.
- Kiểm tra núm bình: núm chảy quá nhanh làm bé sặc, nuốt hơi; núm quá chậm làm bé mút mạnh, cũng nuốt hơi. Chọn cỡ núm theo hướng dẫn dành cho tuổi của bé.
- Pha sữa công thức đúng tỉ lệ theo hướng dẫn trên hộp, không pha đặc thêm. Mọi việc làm đặc sữa để giảm trớ chỉ làm khi bác sĩ chỉ định.
- Sau bú, tránh đè bụng: không đóng tã quá chật, không cho bé nằm gập người trong ghế nhún, không vận động mạnh, không thay tã bằng cách nhấc cao hai chân ép lên bụng ngay sau cữ bú.
Với bé bú mẹ mà mẹ có nhiều sữa, sữa phun mạnh lúc đầu cữ, bé có thể sặc và nuốt hơi nhiều. Cho bú ở tư thế mẹ ngả lưng ra sau một chút, hoặc nhờ nhân viên tư vấn sữa mẹ hướng dẫn, thường giúp bé dễ bú hơn.
Vì sao vẫn đặt bé ngủ nằm ngửa dù bé hay trớ
Nhiều người lo bé nằm ngửa sẽ sặc sữa trớ, nên cho bé nằm sấp hoặc nghiêng, kê gối cao đầu, dùng gối chống trào ngược. Các khuyến nghị về ngủ an toàn của AAP và nhiều hội nhi khoa vẫn nhất quán: trẻ dưới 12 tháng ngủ nằm ngửa trên mặt phẳng, chắc, không gối, không đồ kê, kể cả trẻ hay trớ.
Lý do là bé khoẻ mạnh có phản xạ bảo vệ đường thở: khi sữa trào lên, bé nuốt lại hoặc ho ra. Ở tư thế nằm ngửa, khí quản nằm phía trên thực quản nên sữa khó chảy vào đường thở hơn. Nằm sấp hay nghiêng lại làm tăng nguy cơ đột tử khi ngủ. Gối nêm, đệm dốc, ghế nhún để bé ngủ có thể làm bé trượt xuống, gập cổ và khó thở.
Nâng cao đầu nôi bằng cách kê chân giường cũng không được khuyên dùng thường quy, vì hiệu quả với trớ không rõ và bé có thể trượt về phía cuối. Khi bé thức và có người trông, cho bé nằm sấp chơi một chút mỗi ngày vẫn tốt cho cơ cổ, cơ lưng; nên đợi một lúc sau cữ bú.
Phần ngủ an toàn chi tiết đã có ở bài riêng của chuyên trang trông trẻ. Ở đây chỉ cần nhớ: bé trớ nhiều không phải lý do để đổi tư thế ngủ, trừ khi bác sĩ có chỉ định đặc biệt cho bệnh lý cụ thể.
Trớ, nôn, nôn vọt: phân biệt để biết lúc nào lo
Bảng dưới để quan sát, không để tự chẩn đoán. Khi một dấu hiệu ở cột bên phải xuất hiện, liên hệ bác sĩ thay vì chờ.
| Đặc điểm | Thường là trớ sinh lý | Cần cho bác sĩ xem |
|---|---|---|
| Cách sữa ra | Trào nhẹ ra miệng, chảy xuống cằm | Phun vọt thành tia ra xa, lặp lại sau nhiều cữ |
| Màu | Trắng, có thể lợn cợn như sữa đông | Xanh lá, vàng xanh (dịch mật), có máu, màu bã cà phê |
| Thái độ của bé | Vẫn vui, bú tiếp được | Đau, ưỡn người, khóc thét mỗi lần bú, bỏ bú |
| Cân nặng | Tăng đều | Không tăng hoặc sụt |
| Thời điểm bắt đầu | Từ những tuần đầu | Bắt đầu sau 6 tháng tuổi, hoặc đột ngột nặng lên |
| Kèm theo | Không có gì đặc biệt | Sốt, tiêu chảy, bụng chướng, ho sặc, khò khè, ngưng thở |
Nôn vọt nhiều lần ở bé khoảng vài tuần tuổi, bé luôn đói và đòi bú lại ngay sau khi nôn, có thể là dấu hiệu môn vị dày làm hẹp lối ra dạ dày. Tình trạng này cần chẩn đoán bằng khám và siêu âm, thường cần phẫu thuật, và bé có thể mất nước nhanh.
Những cách làm nên tránh khi bé trớ
Tự mua thuốc chống trào ngược, chống nôn. Phần lớn trẻ trớ sinh lý không cần thuốc. Thuốc cho trẻ nhỏ chỉ dùng khi bác sĩ khám và kê, vì nhiều loại có tác dụng phụ đáng kể ở tuổi này.
Đổi sữa liên tục. Đổi hết loại này sang loại khác hiếm khi giải quyết được trớ sinh lý, lại làm khó theo dõi. Nếu nghi bé dị ứng đạm sữa bò, ví dụ trớ kèm phân có máu, chàm, quấy nhiều, bác sĩ sẽ hướng dẫn hướng xử lý.
Mẹ tự kiêng khem nhiều thứ. Không có bằng chứng kiêng khem tràn lan giúp giảm trớ. Chỉ thay đổi chế độ ăn của mẹ khi bác sĩ nghi ngờ một thực phẩm cụ thể.
Cho uống nước, nước gừng, nước lá sau khi trớ. Bé dưới 6 tháng không cần nước ngoài sữa. Nước gừng, nước lá không có tác dụng được chứng minh và có thể gây kích ứng.
Dốc ngược bé, vỗ mạnh, lắc khi bé trớ. Nguy hiểm. Khi bé trớ, nghiêng nhẹ đầu bé sang một bên hoặc bế bé hơi chúc về phía trước để sữa chảy ra, lau sạch miệng mũi. Không bao giờ lắc trẻ.
Đi khám ngay hoặc gọi 115 khi
Phần lớn trẻ trớ vẫn khoẻ. Những dấu hiệu sau thì không chờ theo dõi:
- Nôn ra dịch xanh lá hoặc vàng xanh, kể cả chỉ một lần: cấp cứu.
- Nôn ra máu tươi hoặc dịch màu bã cà phê; phân có máu hoặc đen.
- Nôn vọt nhiều lần trong ngày, bé đói cồn cào nhưng không giữ được sữa.
- Bụng chướng căng, bé khóc thét từng cơn, co chân lên bụng.
- Dấu hiệu mất nước: tã khô nhiều giờ, môi khô, thóp lõm, li bì.
- Bé dưới 3 tháng có nhiệt độ từ 38°C trở lên, hoặc nôn kèm sốt ở bất kỳ tuổi nào mà bé lừ đừ.
- Bé sặc rồi tím tái, ngưng thở, thở rút lõm, hoặc co giật, mềm nhũn: gọi 115.
Khi gọi 115 hoặc tới cơ sở y tế, nói rõ bé bao nhiêu ngày tuổi, nôn từ lúc nào, bao nhiêu lần, màu gì, lần cuối có tã ướt là khi nào. Nếu được, mang theo khăn hoặc tã dính chất nôn, hay chụp ảnh lại. Trong lúc chờ, giữ bé nằm nghiêng hoặc bế hơi chúc về phía trước để chất nôn chảy ra ngoài, không cho bé uống gì thêm khi chưa có hướng dẫn của nhân viên y tế.
Câu hỏi thường gặp
Bé ngủ thiếp đi khi bú có cần đánh thức để vỗ ợ hơi không?
Không bắt buộc. Có thể bế bé thẳng lên vai vài phút; nhiều bé vẫn ợ được khi ngủ. Nếu bé không ợ mà vẫn ngủ yên, đặt bé nằm ngửa trong chỗ ngủ an toàn. Bé thức dậy quấy vì đầy hơi thì bế lên vỗ tiếp.
Trớ ra đường mũi có nguy hiểm không?
Sữa trớ đôi khi ra cả đường mũi vì mũi và họng thông nhau. Bé thường hắt hơi hoặc ho để đẩy ra. Lau sạch, bế bé thẳng một chút cho dễ thở. Nếu sau đó bé thở bình thường, hồng hào thì không đáng lo; bé tím, thở khó thì cần cấp cứu.
Có nên cho bé bú lại ngay sau khi trớ không?
Nếu bé trớ ít và vẫn tìm vú, có thể cho bú tiếp theo nhu cầu. Nếu vừa trớ nhiều, cho bé nghỉ một chút trong tư thế thẳng rồi cho bú lại khi bé đòi. Với nôn nhiều lần hoặc nôn vọt, hỏi bác sĩ.
Nấc cụt sau bú có liên quan đến ợ hơi không?
Nấc rất thường gặp ở trẻ sơ sinh, đôi khi sau bú no hay nuốt hơi. Nấc thường tự hết và ít làm bé khó chịu. Có thể cho bú tiếp hoặc bế đứng. Không cần dán chỉ đỏ lên trán hay cho uống nước.
Bé hay trớ có làm chậm tăng cân không?
Phần lớn bé trớ vẫn tăng cân tốt vì lượng sữa mất đi nhỏ hơn người lớn tưởng. Bác sĩ theo dõi biểu đồ tăng trưởng ở các lần khám; nếu bé tăng chậm hoặc sụt cân, đó là lúc cần đánh giá kỹ hơn.
Khi nào thì bé hết trớ?
Phần lớn trẻ giảm trớ rõ khi biết ngồi, ăn dặm đặc hơn, và hết hẳn quanh 12 tháng tuổi. Trớ kéo dài sau tuổi đó hoặc bắt đầu sau 6 tháng nên được bác sĩ xem.